Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua bài Tự tình II của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua bài Tự tình II của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương
5 (100%) 480 đánh giá

Đề bài: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua bài “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương và “Thương vợ” của Trần Tế Xương – Bài tập làm văn số 2 lớp 11

Bài làm

Loading...

“Thương thay thân phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Hai câu thơ lục bát trên được trích từ tác phẩm Truyện Kiều của Đại Thi Hào Nguyễn Du nói về thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa thật “bạc mệnh”. Hay trong những bài ca dao:

“Thân em như củ ấu gai

Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen

Ai ơi nếm thử mà xem

Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.”

Cho ta thấy hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam xưa được xuất hiện nhiều qua các bài thơ, ca dao, tục ngữ với những vẻ đẹp, hình tượng khác nhau. Họ làm lụng vất vả qua ngày tháng nhưng không hề kêu than mà vẫn chịu thương chịu khó vì chồng vì con như trong tác phẩm “Thương vợ” của Trần Tế Xương ông đã thể hiện rất rõ điều đó. Xưa kia người phụ nữ họ đâu được tự quyết định cuộc sống của mình, số phận của họ lệ thuộc hoàn toàn vào người đàn ông, dân gian có câu “tài hoa bạc mệnh” người phụ nữ càng xinh đẹp sẽ càng khổ. Người phụ nữ  họ cũng là người, họ có quyền khát khao hạnh phúc, khát khao có một tuổi xuân tươi vui nhưng những người phụ nữ thời xưa với những luật lệ khắt khe những tư tưởng hà khắc của Nho giáo họ không dám bày tỏ nỗi lòng của mình. Nhưng đến gần cuối thế kỉ thứ  XVIII có một thi sĩ đã sáng tác ra những bài thơ rất táo bạo nói hộ nỗi niềm của những người phụ nữ đó là Hồ Xuân Hương. Bà khát khao hạnh phúc, khát khao được yêu thương và mong muốn tìm được một bến đỗ cho cuộc đời của mình và điều đó được thể hiện trong bài “Tự tình II”

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

Hồ Xuân Hương đã sử dụng bút pháp tả thực, từ ngữ thì giản dị gợi cho ta thấy được sự cô đơn lạnh lẽo trong cái không gian đêm khuya thanh vắng. Từ ngữ “hồng nhan” như ám chỉ một người phụ nữ xinh đẹp, nhưng ai cũng biết rằng thời xưa “hồng nhan thì bạc mệnh, tài tử đa cùng”, số phận hẩm hiu của người phụ nữ xưa, càng xinh đẹp thì lại càng “trơ”. Bà tìm đến rượi để quên di nỗi đau này:

“Chén rượi hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Nhưng bà cứ uống vào thì bà lại càng tỉnh, không thể quên đi nỗi đau ấy bà đau đớn phát hiện ra tuổi xuân của mình thì sắp qua đi rồi nhưng mà hạnh phúc thì chưa trọn vẹn chưa “tròn” đầy như mong muốn của mình. Không những thế bà còn tiếp tục nói nên cái tư tưởng Nho giáo đầy khắc nghiệt:

“Mảnh tình san sẻ tí con con”

Quan niệm của thời xưa “trai thì năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng. Người phụ nữ đã thiệt thòi về nhiều thứ, nay còn phải chịu thiệt thòi về cái của “riêng” cũng phải chia sẻ cùng với những người khác. Hạnh phúc của cuộc đời cũng phải dung chung: “chung chồng” bà đã có những câu thơ nói về cảnh tượng này:

Người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua bài “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương và “Thương vợ” của Trần Tế Xương – Bài tập làm văn số 2 lớp 11

Người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua bài Tự tình II và Thương vợ

Chém cha cái khiếp lấy chồng chung”

Bà cũng là người phụ nữ và phải trải qua hết những điều này và bài thơ “Tự tình II” chính là bà đang muốn nói thay những người phụ nữ xưa với cái “tôi” đầy cá tính. Người phụ nữ họ tự than tự nói lên điều mình suy nghĩ thì đó là điều bình thường như ở thời này có một người đàn ông đã ca ngợi vợ của mình đó chính là Tú Xương:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Bà Tú hiện lên là một người phụ nữ chịu thương chịu khó, tần tảo quanh năm buôn bán để nuôi con. Đây cũng chính là đức tính đáng quý của những người phụ nữ Việt Nam nói chung. Nhưng ta thấy có một điều đặc biệt là “nuôi chồng” thường thì trong xã hội người đàn ông là trụ cột trong gia đình, là người nuôi vợ, nuôi con ấy thế mà ông Tú thì ngược lại.  Nhưng dù bà Tú có phải nuôi năm con với một chồng thì bà vẫn “âu đành phận”  dù vất vả nhưng không kêu than nửa lời. Người phụ  nữ rất ý khi được các đấng nam nhi nhắc tới trong các tác phẩm thơ ca của mình, nhưng Tú Xương thì khác ông ca ngợi vợ mình, ca ngợi các đức tính tốt đẹp của vợ mình. Và ông kết bài bằng một câu thơ:

“Có chống hờ hững cũng như không!”

Ông đang tự trách bản thân mình, trách thay bà Tú nói hộ những lời mà người phụ nữ muốn nói. Những người đàn ông thời xưa chỉ biết đèn sách, tạo lập công danh sự nghiệp coi nữ nhi là tiểu nhân hèn mọn. Nào đâu có biết họ đã chịu những sự bất bình đẳng như thế nào, biết học đã vất vả hi sinh như thế nào? Người phụ nữ đã nhẫn nhịn để cuộc sống gia đình được hạnh phúc, dù phải “chung chồng” họ cũng đành chấp nhận.

Qua hai bài thơ “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương và “ Thương Vợ” của Tú Xương ta thấy được người phụ nữ hiện lên là những người thiệt thòi, muốn có một cuộc sống hạnh phúc, khát khao cuộc sống gia đình trọn vẹn và người phụ nữ tần tảo chịu thương chịu khó vất vả kiếm tiền nuôi chồng nuôi con. Ta thấy “trọng nam khinh nữ” là một tư tưởng lạc hậu cần phải lên án, hiện nay tư tưởng này vẫn còn xuất hiện tại một số nơi ở nước ta chúng ta cần phải có những biện pháp tuyên truyền để sự bình đẳng giới được trài đều trên khắp mảnh đất hình chữ S này.

Nguyễn Hòa

Loading...

Từ khóa tìm kiếm:

  • người đàn bà Việt xưa
DMCA.com Protection Status